TỐ HỮU. : Những chặng đường sáng tác của tố hữu
Đánh giá chung về tố hữu
Tố hữu là 1 trong những ngọn cờ đầu của thơ ca CM Việt Nam là 1 nhà thơ có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đối với CMVN (mặc dù điều đó cho thấy tầm ảnh hưởng vô cùng rộng lớn của thơ Tố Hữu với lịch sử) mà còn đối với chúng đời sống văn học của đất nước ta trong suốt nửa thế kỷ không ít những lớp nhà thơ trẻ chịu ảnh hưởng của tư tưởng - nghệ thuạt của Tố Hữu trong quá trình sáng tác của mình. Phạm Tiến Duật là 1 dẫn chứng sinh động ông đến với thơ và trưởng thành trong thơ từ những ảnh hưởng của thơ Tố Hữu (như chính ông tâm sự trong nghĩ và làm). phong cách của thơ Tố Hữu vừa kết tinh từ đời sống văn học, đời sống CM của dân tộc lại vừa là 1 dòng chủ đạo trong sự phát triển của thơ ca Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ 20.
- Thơ Tố Hữu gắn liền với những bước đi của CM, của dân tộc trong lịch đấu tranh chống ngoại xâm cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, trên Miền Bắc và cả sau này khi đất nước thống nhất có thể nhận xét 1 cách khái quát “Thơ tố hữu là biên niên sử của cuộc CM giải phóng dân tộc của chúng ta”. Từng chặng đường lịch sử của Đất nước cũng như từng bước đi của CM đều được thể hiện qua thơ Tố Hữu. Chặng đường Thơ Tố Hữu cũng là những chặng đường ấy của lịch sử dân tộc thế kỷ 20.
+ Với tập thơ Từ ấy bao gồm 3 phần xiềng xích, máu lửa, giải phóng, gần như toàn bộ cuộc đấu tranh gian khổ, không biết bao nhiêu hy sinh mất mát, trong nhà tù cuộc đấu tranh bên ngoài như 1 chiến trường rộng lớn đến trước mái chém của các chiến sĩ, quần chúng CM, hình ảnh của những người yêu nước CM, hình ảnh của Đảng, Người nắm ngọn cờ đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã được thể hiện với tất cả niềm kính trọng, ý thức ngợi ca tôn vinh và sự tri ân của người nghệ sĩ. Đó là lẽ đương nhiên bởi chính người nghệ sĩ ấy cũng là 1 chiến sĩ “chuyển đời quay theo tiếng gọi tự do” là người luôn đứng vững trên đường đầy lửa máu chan kiêu căng không thoái bộ bao giờ… Cho nên viết về CM viết về cuộc đấu tranh của dân tộc trong những ngày đầu lửa máu ấy Tố Hữu viết từ trong chính lòng mình, trái tim mình, khát vọng củ mình. Cho nên dẫn là 1 biên niên sử về thời kỳ đấu tranh, còn trong bóng tối của Đảng, Tố Hữu qua tơ, vẫn thể hiện cái quá trình giác ngộ CM của mình, quá trình đấu tranh, quá trình trưởng thành, từ thuở mặt trời chân lý chói quan tim. Từ nhận thức về con đường CM “dẫn thân vô là phải chịu tù đày là gươmkề tận cổ súng kề tai là thân sống chỉ coi còn 1 nửa” với tinh thần vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng như 1 người nông dân hoàn thành xong công việc của mình đón nhận sự hy sinh của mình chiến sĩ cộng sản thật bình dị. Nhưng dọc theo 3 phần thơ của Từ ấy là sự trưởng thành, lớn lên của CM tiến tới ngày toàn thắng, ngay cả dân tộc giải phóng. Ngày mà Tố Hữu cảm thấy có 1 con chim gì trong tóc nhảy nhót hát ca, ngày mà Tố Hữu cũng như người dân của mình hát vang bài ca ca ngợi - HCM người cha già dân tộc, cây hải đăng mặt biển, bão táp chẳng rung rinh.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cơ quan đầu não của Đảng và chính phủ cùng với Bác Hồ Lên Việt Bắc, biến Việt Bắc thành Thủ đô của cuộc kháng chiến để 9 năm sau từ Việt Bắc chúng ta lại trở về thủ đô với cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ, thơ Tố Hữu lại hướng tới cuộc sống trong kháng chiến gian khổ hy sinh của nhân dân ta. Thơ Tố Hữu bám sát từng bước chân của người chiến sĩ, Thơ Tố Hữu gắn với đường sống kháng chiến của nhân dân như “cả nước” T hơ Tố Hữu miêu tả chân dung của người lãnh đạo tối cao của cuộc kháng chiến - HCM qua sáng tháng 5 rồi “VB” và đây đó ở 1 số bài thơ khác, chân dung của những người mẹ chiến sĩ, những bài Bầm, bà Bủ, chân của những người chiến sĩ núi không đê nổi vai vươn tới là nguỵ trang reo với gió đèo; chân dung người cán bộ CM lúc gặp nhau lưng đèo nhẹ bóng t re trùm mát rượu… đó là tập thơ VB, kháng chiến với rất nhiều hi sinh nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan. Chân dung chủ tịch HCM cũng không khắc khổ, gân quốc như những nét phác thảo trong những ngày đầu của cuộc CMT8 thành công, ở bài “HCM” mà rất tươi tắn, ngời sáng tinh thần lạc quan bao la cái nhìn nhân hậu và vời vợi trong tầm cao trí tuệ. Đó là 1 HCM trong vẻ đẹp vừa của 1 lãnh tụ CM ngời sáng tinh thần chiến đấu (có thể trích dẫn cả bài thơ trong sáng tháng 5) lại vừa là 1 ông tiên ung dung thanh thản, tự tại, 1 phong thái hiếm có trong lãnh tụ tiên thế giới… Có thê nói VB là bức tranh tổng hợp với những nét chấm phá điểm xuyết về mọi đối tượng là những chiến sĩ CM đầy ấn tượng và đỉnh cao của nó chính là bài thơ VB.
+ Trong khi đó gió lộng là chặng đường thơ tiếp theo của Tố Hữu hoà cùng 1 nhịp với chặng đường mới CM Việt Nam. Gió lộng từng bước không khí hồi sinh phân tích và tiến tới CM XH, thiên đường của con người trên MBắc thiên đường mà Tố Hữu hướng tới trong thơ của mình, ngay từ năm 1961 đã đỉnh cao muôn trượng “chào 61 đỉnh cao muôn trượng ta đứng dậy mắt nhìn 4 hướng trông lại ngàn xưa trông tới mai sau, trông bắc, trông nam, trông cả địa cầu”. “gió lộng” với câu thơ đề từ” Gió lộng đường khơi rỗng đất trời” chính là cảm hứng bao trùm cả tập thơ.
Tuy nhiên vì đó là những tháng năm đất nước bị chia cắt làm 2 miền cho nên “đời vui” mới “chỉ nửa phần vui đầy” còn một nửa đất nước đang đau thương dưới sự thống trị của bọn xâm lược Mĩ và chính quyền tay sai. Nên trong gío lộng Tố hữu ko thể ko trăn trở vì một đất nước đau thương: “tôi muốn viết những câu thơ tươi xanh, vẫn nóng viết những câu thơ nửa cháy”. Đó là những câu thơ giành cho Miền Nam đang ngày ngày đỏ máu bởi gông cùm máy chém bởi bom đạn huỷ diệt. Gió lộng vì thế cùng một lúc hát lên những câu hát phơi phới “đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh” và những câu hát đau thương, bi tráng bởi “một nửa còn trong lửa nước sôi”
Với gió lộng Tỗ Hữu đã tiến bước dài trong sáng tạo của mình. Thơ của Tố Hữu trong gió lộng thực sự là hơi thở của đời sống, là khát vọng chung của dân tộc là sức mạnh tâm hồn có thể chuyển hoá thành vật chất. Thơ Tỗ Hữu ở gió lộng đã được hiện đại hoá rất nhiều nhưng vẫn gắn bó với truyền thống, truyền thống trong cả đề tài khai thác vào lịch sử của dân tộc, truyền thống trong ngôn ngữ, cả trong thể loại. Khi chiến tranh bắt đầu lan rộng ra miền bắc, khi các nước lên đường “ Sao xuyến bở tre từng hồi trống giục “như câu thơ của chính Hữu thơ Tố Hữu cũng ra trận mà chính nhà thơ cũng “ra trận”, cũng với tuyến đường máu lửa Quảng Bình - vĩnh Linh. Tập thơ “ra trận” của Tỗ Hữu đã ra đời trong bối cảnh ấy.
Nó chính là bài ca ra trận của dân tộc khi cả miền bắc đâu cũng là chiến trường đâu cũng là hậu phương. Hậu phương của chính miền bắc và hậu phương của cả miền nam. Vì thế thơ tố hữu bừng bừng một khí thế chiến đấu. Bài ca xuân 67 là bức tranh toàn cảnh về cuộc chiến đấu chống xâm lược, giải phóng miền nam, bảo vệ miền bắc trên đất nước chúng ta. Nếu như gió lộng cùng với không khí dựng xây tưng bừng của miền bắc và tiếng nói sẻ chia của đồng bào miền nam là những dòng hồi tưởng ngày xưa về lịch sử cha ông để cảm thông, kiểu như “PBChâu câu thơ dậy sóng” hay “trải qua một cuộc bể dâu, câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình, nổi chìm kiếp sống lênh đênh Tố như ơi lệ chảy quanh thân kiều” hoặc “nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu điêu, tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng...” Thì với Ra trận Tố Hữu lại khai thác những giá trị tinh thần to lớn của quá khứ của lịch sử và cuộc chiến đấu hôm nay, như khi Tỗ Hữu viết “Hỡi người xưa của ta nay, khúc vui xin lại so dây cùng người….”
Gió lộng không chỉ bó hẹp trong cái nhìn với cuộc kháng chiến của đất nước mà còn mở rộng ra cái nhìn đối với 5 châu, 4 bể ví như “phong trào đấu tranh của nước Mĩ trong chiến tranh xâm lược của việt nam qua Êmêlicôn” rồi rộn hoàng hôn và hàng loạt những bài thơ viết về nghĩa tình của bạn bè trên thế giới.
Sau khi chiến thắng giặc Mĩ, con đường thống nhất đất nước đã tới gần. Tỗ Hữu đã bắt đầu những bài thơ trong tập thơ mới nhằm tổng kết cuộc kháng chiến chống mĩ của nhân dân ta, tập “VN máu và hoa” Tỗ Hữu đã nhân danh dân tộc mình là một cuộc tổng kết lớn về quá trình hy sinh của đất nước trong cuộc kháng chiến chống mỹ vô cùng quyết liệt này nhưng chủ yếu là ca ngợi thắng lợi của chúng ta. Máu và Hoa như một mệnh đề được thể hiện bằng nghệ thuât nhắc nhở không phải chỉ người đọc cũng không phải chỉ chúng ta mà cả nhân loại về con đường đi tới cuộc sống tự do và con đường bảo vệ cuộc sống tự do không bao giờ là đơn giản chúng ta đã gửi màu trộn bùn son suốt hơn một thế kỷ mới có được. Thơ Tố Hữu đã bắt đầu nghiêng và chiêm nghịêm hơn là tụng ca.
Tất nhiên giọng thơ chiệm nghiệm ấy chỉ thực sự đậm nét ở tập thơ tiếp theo “một tiếng đờn” Tiếng đờn, chứ không phải tiếng đàn. Tố Hữu đã trở về chính con người cá nhân mình, con người của một vùng quê- Huế. Vì thế Tố Hữu đầy những trăn trở suy nghĩ về nhân tình thế thái, về cuộc sống của mỗi cá nhân về những được mất của con người nói chung trước một nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế có thể đem đến cho xã hội, ở một bộ phận nào đó, giàu có nhưng sự suy thoái về tinh thần đạo đức là không thể tránh một tiếng đờn truy là những chiêm nghiệm sâu sắc nhưng cũng chỉ là tiếng thở dài mà thôi. mà tiếng thở dài bao giờ cũng cần.
2. Phong cách thơ Tố Hữu.
THữu ngay từ tập thơ từ ấy và từ chính bài thơ từ ấy đã là một thứ ngôn cho dòng thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn nhưng đó là cảm hứng lãng mạn dòng thơ trần đẩy cảm xúc trữ tình nhưng đó là chất trữ tình chính trị. Và từ đó, cũng vì thế mà dòng thơ CM khuynh hướng sử thi rất hào hùng, gắn liền với từng chặng đường phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cho nên nói tới đặc điểm của thơ ca CM cũng chính là nói tới những đặc điểm cơ bản trong phong trào thơ THữu. lẽ đơn giản thơ THữu không chỉ thứ ngôn cho sự ra đời của một dòng họ CM mà còn là dòng chảy chính xuyên suốt lịch sử thơ ca Việt Nam gần suốt TK XX.
Luận điểm 1: Đặc trưng trữ tình chính trị trong thơ THữu.
Nói đến thơ là nói đến tiếng nói của cảm xúc tiếng nói của trái tim. Người xưa nói vậy và THữu cũng nói vậy. THữu nói thơ là “Tiếng nói đồng ý đồng chí, đồng tình, nghĩa là, THữu cũng không định bản chất của thơ là chữ tình chỉ có điều chất chữ tình trong quan niệm của THữu gắn liền với những tình cảm lớn lao tình của những người đồng chí, những người cùng một ý tưởng. Vì thế chất trữ tình trong thơ TH đã “khuôn vào” những vấn đề chính trị xã hội, vào cuộc đấu tranh giành quyền sống cho dân tộc đấu tranh của nhân dân, cuộc đấu tranh giành quyền sống cho dân tộc cho nên người đọc không lấy làm ngạc nhiên khi mọi vấn đề chính trị xã hội liên quan tới cuộc sống. Cuộc chiến đấu của Đảng của nhân dân những vấn đề về lý tưởng CM. Về lẽ sống của con người đều được TH trữ tình hoá có thể gọi đó là thứ thơ “đốt cháy trái tim để trở thành trí tuệ”, làm rụng động người đọc những nhận thức về CM, về Đảng, về đất nước, về nhân dân, và về con đường đấu tranh của toàn Dân tộc, ví như trong bài “từ ấy”, sau những rung cảm trước vẻ đẹp của nắng hạ lên của mặt trời chói qua tim của hương hoa, của vườn xuân đầy tiếng chim ca, là sự nhận thức về vẻ đẹp của lý tưởng CM, nhận thức về con d đường của cái tôi cá nhân hoà nhập vào cộng đồng để tạo thành một nguồn sức mạnh vô cùng lớn lao cũng bằng những câu thơ rất trữ tình. Để tình trạng trải khắp muôn nơi, là em của vạn kiếp phôi pha, là anh của vạn đầu em nhỏ… một cách xưng hô gần gũi thân thiét và xúc động lòng người.
Đặc trưng trữ tình chính trị khiến cho thơ TH luôn ca hát cuộc đấu tranh của dân tộc, con đường đấu tranh của Đảng, dựng lên chân dung ngời sáng những vẻ đẹp cao cả của lòng yêu nước, của tinh thần hy sinh, của ý chí kiên cường… như Chân dung của C T HCM vĩ đại được mở đầu bằng bài thơ HCM cho tới mai sau này theo trường ca, “ Theo cân bác”, là chân dung của những người mẹ Việt Nam anh hùng, từ ba má hậu giang, khởi nghĩa Nam Kỳ (40) hình ảnh Bà Bầm, bà bú, hình ảnh mẹ tơm, hình ảnh mẹ suốt mà hình bóng đã in vào non sông đất nước “bóng mẹ ngồi trông vọng nước non”, “ ngẩng đầu mái tóc mẹ rụng, gío lay như sóng, biển tung trắng bỡ”, rồi hình ảnh những người anh hùng chiến sĩ đã ngã xuống vì sự sống của đất nước, của nhân dân,từ Phạm Hồng Thái, Nguyễn Văn Trối…. đặc biệt là hình ảnh quần chúng CM, hình ảnh mang tính chất đám đông từ Việt Bắc tới “ Gió lộng”, ra trận, luôn ngời sáng trên các trang thơ của TH.
Luận điểm 2: Phong trào thơ TH còn nổi bật nên với đặc trưng của khuynh hướng sử thi hoá và cảm hứng lãng mạn nói đến sử thi hoá là nói đến khuynh hướng nâng những hình ảnh, hình tượng cụ thể về những sự kiện những con người lên tầm vóc của cả một cộng đồng, tầm vóc của thời đại, giống như trong các tác phẩm sử thi mà chúng ta từng được biết. Đam San của Tây Nguyên hoặc những Trường ca cổ đại của Thế giới với những nhân vật khổng lồ như trà ca Iliat - ađixe (Home)….. đặc trưng sử thi hoá là đặc trưng của thơ ca CMVN từ sau 1945. Nó hình thành trên cơ sở của cuộc đấu tranh toàn dân, cuộc CM của những người lao động vừa giành độc lập cho dân tộc quyền sống cho con người vì thế nó có tác dụng rất lớn đối với đời sống xã hội. TH ngay Từ ấy chữn không phải chỉ sau 1945 thơ đã thấm đãm chất sử thi, hình ảnh của mọi người với trăm nơi, rồi vạn nhà vạn kiếp, vạn đầu đã là biểu hiện của khuynh hướng sử thi hoá. Hoặc hình ảnh chuyển đổi quay theo hướng gọi tự do “tôi chỉ một giữ muôn người chiến đấu, vẫn đứng vững tren đường đầy lửa máu, chân kiêu căng không thoái bộ bao giờ” đã là hình ảnh thực sự được phóng đại, cường điệu được thần thoại hoá qua cảm hứng lãng mạn thấm đậm chất sử thi cổ xưa.
Khuynh hướng ấy càng ngày càng trở nên đậm nét từ Việt Bắc đến ra trận. Có thể thấy gần như ở hầu hết các sáng tác của TH , vẻ đẹp sử thi này.
“Quân di điệp điệp trùng trùng
ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuóc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Hoặc “xẻ dọc trường sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
Hoặc. Hình ảnh giải phóng quân hình ảnh một thạch sanh thế kỉ XX.
“anh giải phóng quân
Kính chào anh, con người đẹp nhất
Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất
Sống hiên ngang bất khuất trên đời
Như Thạch sanh của Thế kỉ XX
Một dây ná, một cây chông cũng tấn công giặc mĩ
Không tự ngắm mình anh chẳng hay đâu, hỡi chàng dũng si
Cả 5 chân chân lý đang nhìn theo.
Bóng anh đi và vành mũ tai bèo của anh đó”
Đặc trưng sử thi hoá luôn gắn liền với cảm hứng lãng mãn làm cho thơ TH luôn phơi phới lời thơ luôn hào hứng, ý thơ luôn thôi thúc, mạnh thơ luôn cuồn cuộn.
Luận điểm 3: Thơ TH và đặc tính dân tộc gắn liền với những đề tài hiện đại.
TH sinh ra từ một vùng quê hết sức thơ mộng nổi tiếng với những điệu dân ca trữ tình, như hò hức chẳng hạn, mảnh đất của thi ca vì thế thấm vào hòn thơ TH là vẻ đẹp của quê hương, vẻ đẹp của vùng văn hoá, giàu bản sắc. Thơ TH là thơ của tiếng nói đấu tranh là bài ca kêu gọi lên đường là tiếng kèn xung trận, là khúc hát khải hoàn trong âm hưởng chung của thời đại nhưng vẫn đậm đà màu sức dân gian, bản sắc dân tộc. Từ thể loại cho đến ngôn ngữ cho đến các hình tượng đều gắn bóvới thơ ca dân gian ví như thể thơ lục bát, song thất lục bát như việt Bắc, 30 năm đời ta có Đảng, song thất lục bát, nước non ngàn dặm là những khúc hát lớn. Thấm đậm cái hồn của dân tộc. Giọng điệu cũng là giọng điệu ân tình chung vốn của của con người Việt Nam, giọng điệu ngọt ngào của xứ huế, TH thường hay lên tiếng gọi rất tha thiết ân tình…. “Bác ơi đồng bào ơi, anh chị em ơi, bầm ơi, em ơi”
TH còn thể hiện đặc tính dân tộc trong thơ của mình từ việc lấy đề tài trong quá khứ như sức mạnh phù đổng hình tượng Thạch Sanh, hình ảnh những cô tấm vùng quan họ, hoặc trò chuyện cùng người xưa “Tố Như ơi. lệ chảy quanh thân kiều” hoặc “Nghe hồn Nguyễn trãi phiêu diêu” và ngôn ngữ cũng là ngôn ngữ của ca dao dân ca, đọc nên nghe như là khúc hát dân ca.:BoDoi3: